Trang Nha - Home

Truyen Thanh - Radio

Truyen Hinh - TV

Thanh Kinh - Bible

Doc - Read

So Sanh - Comparison

Quan Trong - Importance

Doi Song - Your Life

Tra Loi Thac Mac - Q & A

Than Hoc - Theology

Dang Tao Hoa -The Creator

Chua Gie-su La Ai?

Chua Tinh Yeu -Loving God

Phuc Am Doi Doi

28 Tin Dieu - 28 Beliefs

60 Du Kien Sabat

Ai Doi Ngay Thanh?

Thac Mac Ve Sabat

Tai Lieu - Publications

Hoi Thanh - Church US

Loma Linda Church

Orange County Church

San Diego Church

Tu Gia - Housechurch VN

Tuyen Ngon - Declarations

Tu Gia - Housechurches VN

Nhac Tu Gia - Music

Cuu Tro - Humanitarian

Lanh Dao - Leadership

Thong Tin - News

Health (English)

Lien Lac - Contact

Gioi Thieu - ABout Us

Su Mang-Mission

Muc Tieu-Goal

To Chuc-Organization

Lich Su-History

Uy Thac-Commission

An Binh Hanh Phuc (Peace & Happiness Ministry)

Phuc Am Doi Doi Cho Nguoi Viet ( Everlasting Gospel To The Vietnamese People)

 

CHUYỆN CỔ TÍCH


Ở trong một làng nọ, có một người đàn ông rất giàu có. Nhưng ông ta cũng là một người rất keo kiệt, chưa bao giờ bỏ ra một đồng xu để giúp đở người nào. Ông sống một ḿnh cô độc, không giao thiệp với bất cứ ai và không muốn bất cứ ai làm phiền ḿnh.

Trong làng cũng có một người thợ giầy. Ông ta nghèo khổ, công việc làm ăn không phát đạt lắm lại nhà nghèo đông con; nhưng ông ta rất hào phóng, bất cứ ai gặp hoạn nạn hay lở độ đường, cho dù đêm hôm tăm tối gỏ cửa nhà ông, ông cũng vui ḷng trở dậy, thắp đèn rước họ vào nhà, lấy bánh ḿ cho ăn, cho họ ngũ lại đêm và giúp đở chút ít trước khi tiễn họ lên đường.

Làng nằm trên một con đường hẽo lánh, những mùa tuyết rơi, kẽ bộ hành thật là khổ sở. Đường xá gập ghềnh tuyết rơi ngập lối, những người tha phương cầu thực thường phải dừng chân xin ngũ lại qua đêm trong làng.

Ai cũng đến gỏ cửa nhà người giàu trước v́ nhà của ông ta to lớn đồ sộ, lại ở ngay đầu làng. Người giàu có mở cửa ra, la hét giận dữ, xua đuổi họ đi một cách gấp rút không đợi nghe đến dứt câu. Ông lúc nào cũng kèm theo câu nói chế nhạo: "Tôi nghe nói cuối làng có ông thợ giầy hay giúp đở người lắm, các người tại sao không đi tới đó mà ghé lại đây làm ǵ?".

Trăm lần như một, sau câu nói dững dưng đó là ông đóng sập cửa lại, đuổi ra ngoài trời giá lạnh những tấm thân co ro đói khát; và cũng trăm lần như một, những người này lê lết đến tận cuối làng, gỏ cửa nhà người thợ giầy. Và người thợ giầy lúc nào cũng trở dậy, thắp đèn đón tiếp, cho ăn cho ngũ qua đêm.

Ngày tháng trôi qua ḷng tử tế của người thợ giầy được đồn đại khắp nơi, ai cũng kính trọng ông ta. Tên ông được nhắc đến thường xuyên ở nhà thờ như là tấm gương cho mọi người nh́n vào để học hỏi. Những người mang ơn ông nhiều vô kể.

Trái lại, người giàu có th́ bị khinh bỉ, nhạo báng, số người ghét ông mỗi ngày một tăng. Mỗi khi ông ra đường, người lớn th́ phỉ nhổ, con nít th́ chạy theo ném đá. Ai cũng cho rằng cuộc sống cô dộc, không gia đ́nh thân thuộc của người giàu có, là một h́nh phạt cho những kẻ chắt bóp, ích kỷ.

Đến ngày người giàu có qua đời, v́ không có người thừa kế nên tất cả tài săn của ông đều thuộc về làng xă, dân trong làng cũng lo việc chôn cất cho ông. Họ đồng ư chôn xác người giàu có ở ven đường làng, vùi dập sơ sài, lể an táng không kèn không trống, không ḥm và không kẻ tiển đưa. Nơi nấm mồ hoang sơ ấy, hàng ngày, người và súc vật dẫm chân qua lại; đôi khi họ c̣n chỉ chỏ, nhiếc móc, nhạo báng người đă chết.

Nhưng có một điều lạ, là từ khi người nhà giàu chết đi, th́ ông thợ giầy cũng không c̣n giúp đở ai nữa. Nhà ông ta đóng chặt cửa trước những lời van xin trong đêm; không c̣n ai nhận được những sự đón tiếp ân cần và giúp đở của ông nữa.

Các vị cao tuổi trong nhà thờ rất đỗi lạ lùng, họ đồng ư mời người thợ giầy lên để t́m hiểu tại sao ông ta lại thay đổi? Họ muốn biết điều ǵ đă xảy ra khiến vị đại ân nhân của mọi người trở nên như vậy.

Người thợ giầy im lặng giây lát rồi nhún vai trả lời, "Tôi thật không hiểu nổi các ông! Tại sao các ông lại có thể tin được rằng, một người thợ giày nghèo túng như tôi, tiền làm lụng không đủ nuôi sống gia đ́nh ḿnh, mà lại có thể nuôi ăn và sưởi ấm cho tất cả khách qua lại trong mùa đông? Thật là nực cười!

"Chính người nhà giầu đă đưa tiền cho tôi để làm công việc này! Ông ta muốn giúp người nhưng lại không muốn được mang ơn, không muốn được xưng tụng; nên mới nhờ tôi làm chuyện này. Bây giờ tôi không có tiền của ông nhà giàu cho nữa, nên cũng như các ông đây thôi, tôi không thể giúp đở ai hết. Việc ấy có ǵ là lạ?"

Cả nhà hội hoàn toàn im lặng, hầu như tất cả mọi người đều không dám thở mạnh v́ quá ngỡ ngàng. Chỉ có người chấp sự già nua nhất, là cất tiếng nói nghẹn ngào qua làn nước mắt, "Sau này, khi tôi chết đi, xin quí vị cũng hăy làm ơn chôn tôi bên cạnh nấm mồ hoang lạnh bên cạnh vệ đường ấy. Đây mới chính là nơi nghỉ ngơi b́nh an nhất của một linh hồn."

Trích dẫn trong đặc san Suối Thiêng: Ấn Bản Đức Tin & Việc Làm



L̉NG CAN ĐẢM



Năm 1940, Đức-Quốc-Xă tiến chiếm Paris thủ đô của Pháp quốc. John Henry Weidner lúc ấy là một thương gia người Dutch trẻ tuổi, t́m cách lẩn trốn qua Anh quốc nhưng không được. Một buổi chiều anh đón xe lửa đi về tỉnh Lyon. Quân đội Đức canh gác khắp nơi, và họ đang di chuyển một đoàn người Do-Thái, gồm toàn đàn bà và trẻ con về một trại Tập trung ở miền Đông.

Một người đàn bà Do Thái bồng một em bé, vụng về bước qua mặt John. Đứa bé khóc thét, vật vă trong tay người mẹ. Người lính Đức ra lệnh cho người mẹ phải làm cho em bé hết khóc. Bà ta cố gắng nhưng vẫn không được, người lính giằng đứa bé ra khỏi tay người mẹ, và quật nó xuống đất, đập nát chiếc đầu nhỏ bé. Những người lính Đức đứng chung quanh cười rộ lên tán thưởng.

"Không thể nào tưởng tượng nổi một hành vi vô nhân đạo đến như vậy", John nhắc lại câu chuyện cũ, "Sự việc kinh khiếp ấy, đi ngược lại với tất cả những điều mà tôi đă được dạy dỗ và đă tin tưởng. Tôi cảm thấy tôi có bổn phận phải giúp đỡ những con người đáng thương này".

Chính trong giây phút định mệnh ấy, John Weidner, một tín đồ Cơ-Đốc Phục-Lâm đă tốt nghiệp trường Thần học, quyết định hy sinh cuộc đời ḿnh, để trợ giúp những người Do-Thái đang bị truy lùng và tận diệt bởi Đức-Quốc-Xă.

Xử dụng hết tất cả tài sản và sự quen biết của ḿnh, John Weidner thiết lập tổ chức DUTCH-PARIS. Một tổ chức bí mật khoảng 300 người, sẵn sàng hy sinh tính mạng để giúp đỡ, thiết lập một đường giây giải thoát từ Ḥa-Lan xuyên qua Bỉ và Pháp, đến những quốc gia tự do ở Ái-Nhỉ-Lan và Tây-Ban-Nha. Tổ chức Dutch-Paris đă giải thoát hàng ngàn người Do-Thái, những quân lính Đồng-minh, những linh mục Công-giáo, và những tù nhân chính trị. Đây là một nhóm người rất đặc biệt, những người hết sức hiền lành, hết sức đạo đức, không bao giờ nhúng tay vào những việc tàn ác, giết chóc hay phá hoại. Nhưng họ cũng là những con người hết sức can đảm, sẵn sàng chịu đựng và hy sinh tất cả để cứu giúp người khác.

Tuy là lănh tụ, nhưng John Weidner không bao giờ từ chối sự thân hành hướng dẫn người đi trốn, mặc dù anh bị quân đội Đức lùng bắt gắt gao. Đức Quốc Xă đă tra tấn và hành hạ cha anh và một người chị của John cho đến chết. Một người chị khác, tiếp tục giúp đỡ John điều hành tổ chức. Ngay chính bản thân John cũng đă bị bắt giữ, bị tra tấn và bị kết án tử h́nh rất nhiều lần, nhưng đến phút cuối cùng anh luôn luôn được cứu thoát.

Đoạn đường nguy hiểm nhất mà John thường dẫn người đi, là đoạn đường cuối cùng sát biên giới Ái-Nhỉ-Lan, thuộc tỉnh Collonges, nơi John đă theo học Thần học viện Cơ-Đốc Phục-Lâm suốt quăng đời thanh niên. Anh biết mọi ngỏ ngách, ngọn nguồn, tất cả những gốc cây, những hang động trong núi, và chỉ có anh là người có thể giúp đở mọi người, tránh khỏi con mắt tầm nă của lính Đức.

Trong lần bị bắt cuối cùng, John bị tuyên án xử bắn, một người lính Đức khám thấy quyển Thánh kinh trong túi áo của anh, đă giúp đỡ cho John chạy thoát. John đă nhảy từ trên sân thượng của một ṭa nhà ba tầng cao xuống đất yên lành và lẩn trốn ngay giữa ban ngày.

Khi thế chiến chấm dứt, quân đội Đồng minh tuyên dương công trạng của John Weidner và trao tặng huy chương danh dự tối cao "Medal of Freedom". Anh quốc cũng trao tặng huy chương "The Military Order of the British Empire". Ḥa Lan trao tặng huy chương "The Order of Orange-Nassau". Pháp quốc trao tặng "The Croix le Guerre" và huy chương "Medaille de la Resistance". Ái- Nhĩ-Lan trao tặng huy chương "Neitherland Medal of Resistance". Đặc biệt quốc gia Do-thái đă ghi tên John Weidner vào quyển sách "The Golden Book of Jerusalem" và trao tặng huân chương "Medal of the Righteous Gentile".

Pierre Sauvage, chủ tịch Ủy ban Friends Of Le Chambon, trong buổi lễ vinh danh John đă trân trọng nói, "... Trong khi hầu hết Cơ-Đốc nhân ngoảnh mặt làm ngơ, trước sự kiện Đức Quốc Xă tàn sát người Do Thái ở Âu Châu, John Weidner đă can đảm biểu lộ t́nh yêu thương không biên giới đối với đồng loại của ḿnh..."

John Weidner ở lại Ḥa-Lan, để giúp đỡ các quả phụ và trẻ mồ côi của những hội viên trong tổ chức DUTCH-PARIS, tái tạo lại đời sống b́nh thường cho những người này. Và sau đó trong năm 1955, anh di cư qua Hoa-kỳ.

John thường nói "Tín đồ Cơ-Đốc Phục-Lâm tin tưởng rằng một thân thể tráng kiện luôn luôn đi kèm với một tinh thần minh mẫn, và một tâm hồn cao thượng". Tại Hoa-kỳ John Weidner thành lập "The American Dietary Labratories" ở Pasadena, California, và "Weidner Nutrition Centers" ở Pasadena, lhambra, Montery Park, Montebello, and Downey. Trong lănh vực này John cũng nhận được rất nhiều huy chương về sự đóng góp của anh trong việc bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.

Năm 1987 John Weidner, đă 73 tuổi, cho xuất bản quyển sách "The courage to care". John viết, "Trong cuộc sống, mỗi một chúng ta thường phải lựa chọn: hoặc là chỉ nghĩ đến bản thân ḿnh và t́m cách làm sao cho có được càng nhiều càng tốt, hoặc là nghĩ đến những người chung quanh, cố sức giúp đỡ, phục vụ những người yếu đuối. Tôi tin rằng sự việc giúp đỡ người khác, cần thiết cho sự phát triển tinh thần và kiến thức của chúng ta. Và nhất là đặc biệt quan trọng cho sự phát triển của tâm hồn, một tâm hồn sẵn sàng mở ra, trước những đau đớn của nhân loại".

Lược dịch "Flee the Captor" by Gina D. Wahlen, Signs of the Times, Feb, 1987

Trích dẫn trong đặc san Suối Thiêng: Ấn Bản Chúa Yêu Thương



NHỚ MẸ



Hồi anh c̣n nhỏ, mẹ dạy anh học vỡ ḷng. Ba c̣n giữ những bức h́nh chụp anh đang ṿ đầu, ṿ tai tập đánh vần, bên cạnh mẹ đang ngồi may áo. Mẹ thương anh nhất v́ anh là con trai đầu. Ba bận đi làm, bận đi học thêm, mọi việc mẹ đều trông cậy nơi anh.

Giỗ tết, lễ lạc, anh đi đặt thức ăn, mua sắm mọi thứ. Mẹ sinh em bé, anh lên săn sóc mỗi ngày. Có lẽ càng gần gủi mẹ, anh càng thấy mẹ nhọc nhằn nên anh thương.

Lớn lên gia đ́nh càng đông đúc. Mấy đứa em bận bịu công việc, học hành, mẹ cũng bận ḷng thêm với những phiền nhiễu mới. Anh lập gia đ́nh nhưng nhà ở liền vách với mẹ. Mỗi sáng anh thường qua hầu trà. Ba, mẹ và anh ngồi nhâm nhi một b́nh trà nhỏ. Mẹ thường phàn nàn chuyện mấy đứa con, rồi càng bực ḿnh, mẹ càng trách móc. Anh yên lặng ngồi nghe, mặt không đổi sắc, nhẹ nhàng, tôn trọng.

Mẹ nói xong rồi, hả hê uống thêm chén trà mới. Anh nhỏ nhẹ đổi đề tài, tiếp tục ngồi với ba mẹ cho đến khi phải đi. Sáng mai anh lại qua, lại yên lặng ngồi nghe, mặt mày vui tươi, ḥa nhă.

Rồi anh đi học tập. Một năm, hai năm, ba năm. Mỗi đêm anh thường mơ thấy mẹ. Những khi lặn lội đốn củi trong rừng, anh ra công t́m kiếm những cây trúc nhỏ, đem về đẻo gọt, chà láng làm thành những ống sáo trúc rất đẹp. Hễ nghe người bạn đồng cảnh ngộ nào biết thổi sáo, anh đến tặng họ ống sáo và yêu cầu họ thổi cho nghe bài "Ḷng Mẹ".

Những đêm lạnh căm và những đêm nóng nực, những đêm trăng sáng và những đêm tối tăm, anh đều nghe bài "Ḷng Mẹ". Anh thả hồn theo tiếng gió núi nhớ mẹ.

Những buổi sáng c̣n mờ sương, ai nấy đều sửa soạn tập họp để vào rừng. Đoàn người dài ngoằn, sắp hàng đi quanh co như một đoàn kiến. Núi rừng mịt mù cây cỏ, không nhà, không quán, không cả bóng người; thỉnh thoảng mới có một vài khách bộ hành người Thượng hoặc người Kinh thấp thoáng gánh gồng ở những đường ṃn xa xa.

Anh nhớ rất rơ những con đường ṃn trong rừng rậm. Mỗi ngày dẫm chân lên lớp sỏi gồ ghề, anh như c̣n thấy xuyên qua cái vắng lặng thường xuyên của nó, h́nh ảnh những đoàn người lũ lượt đi thăm nuôi. Náo nhiệt, ồn ào tiếng cười và tiếng khóc.

Anh thương lắm những người đàn bà áo quần xốc xếch, ốm yếu, gầy c̣m, nhịn ăn nhịn mặc, gói ghém đi thăm con, thăm chồng. Mỗi ngày đi lại trên con đường ṃn, anh vẫn dơi mắt t́m kiếm những bóng người thăm nuôi lạc loài đây đó.

Một sáng nọ, mắt anh chợt bắt gặp một bóng h́nh ốm yếu bên ngỏ quanh. Dưới gốc cây to, một bà cụ, tay ôm nải chuối xanh, đang nhớn nhác nh́n vào mặt những người học tập đang đi ngang qua. Họ cũng nh́n lại cụ, nhưng không ai cất tiếng nói v́ họ không được phép tṛ chuyện với người lạ.

Anh theo dơi bà từ đàng xa, lúc đến gần, anh cất tiếng nhỏ nhẹ, "Mẹ ơi, con mẹ tên là ǵ?" Bà già trả lời giọng khàn khàn, "Con tui tên Trần văn Linh, tui đem cho hắn nải chuối".

"Anh Linh ở trại nào, số mấy, mẹ biết không?"

"Tui không biết. Người ta nói có lẽ hắn ở mô chừng trong ni."

Anh hỏi người bên cạnh, "Có ai biết anh Trần văn Linh?" Câu hỏi được chuyền từ người nọ đến người kia, nhưng không có tiếng trả lời.

Đoàn người tiếp tục bước. Anh ngoái cổ nh́n lại, nghĩ thầm có lẽ con bà cụ ở trong toán người đi sau.

Chiều xuống, đă xong một ngày đốn củi, đoàn người lại lũ lượt sắp hàng đi về. Bà cụ già vẫn c̣n đứng đó một ḿnh, mắt nh́n chăm chăm vào từng mặt mỗi người đi qua.

Đêm đó anh không ngủ được, lời cầu nguyện cứ nghẹn ngào trong cổ. Sáng ngày hôm sau, mắt anh hoa lên khi thấy bà cụ vẫn c̣n đứng bên ngả quanh với nải chuối trên tay. Tóc bà rối bù, mặt ốm thỏn, cỏ khô vướng mắc trên vạt áo nhàu nát. Rừng mờ sương, bóng dáng nhỏ thó của bà lẫn trong cái màu xanh bao la của rừng rậm.

Mắt bà nh́n chằm chặp vào những người đi ngang qua. Anh hét to lên, "Có ai biết người nào tên Trần văn Linh?" Không ai nói ǵ hết, họ chỉ đăm đăm nh́n bà cụ.

Ngày hôm sau nữa, bà cụ vẫn c̣n đứng đó, nải chuối trên tay đă chín vàng. Anh chảy nước mắt khi bước ngang bà.

Sang ngày thứ tư th́ không c̣n thấy bà cụ bên ngả quanh nữa. Anh băn khoăn suốt cả tuần không biết bà cụ như thế nào rồi? Cây to ấy và ngả quanh ấy, anh vẫn nh́n măi mỗi khi đi ngang qua. Đôi khi trong tia nắng dọi, giữa những ṿm cây, anh như thoáng thấy bóng h́nh c̣m cơi của bà cụ và nải chuối trên tay.

Đêm ngủ, anh mơ thấy ḿnh nhỏ lại như đứa bé, chạy tung tăng đùa giỡn bên mẹ. Bỗng chốc mặt mẹ già đi nhăn heo, tóc bạc trắng xóa, mẹ quay đi bỏ anh lại đằng sau; anh sợ sệt chạy theo, tay cố giữ chặt vạt áo dài của mẹ. Nhưng mảnh áo đứt đoạn, mẹ vượt dần lên phía trước và đi mất hút, vạt áo trong tay anh cũng hóa thành bướm bay lên trời.

Trong giấc mơ anh khóc ướt cả gối.

Trích dẫn trong đặc san Suối Thiêng: Ấn Bản Đức Tin &Việc Làm

 


PHƯỚC TRONG ĐỜI NÀY



Trung-hoa lục địa vào năm 1910. Người đàn ông trẻ tuổi hăng hái đặt những bước chân đầu tiên lên hải cảng xa lạ cùng với các bạn giáo sĩ được gởi đi từ Canada Bắc Mỹ. Anh là một thanh niên đầy nhiệt huyết và hết ḷng trong sứ mạng rao giảng Tin Lành về Đức Chúa Jêsus ra cho những người chưa từng được biết.

Ở Trung quốc chưa được bao lâu, anh vô t́nh nghe được có một bộ lạc săn đầu người ở dọc khu rừng rậm biên giới Trung-hoa và Ấn-độ; anh yêu cầu cấp lănh đạo cho anh được giảng đạo tại vùng này. Những người có trách nhiệm sau nhiều lần khuyên giải cũng như cấm đoán anh một cách vô ích, cuối cùng phải miễn cưỡng đồng ư trước thái độ nhất quyết của anh.

Đây là một bộ lạc hung dữ nhất trong các sắc dân thuộc vùng biên giới Hoa Ấn. Họ sống trần truồng man rợ, cách biệt xă hội bên ngoài bằng những khu rừng đầy thú dữ. Họ thường giết bất cứ kẽ lạ mặt nào mà họ bắt gặp và cắt đầu người đó về ướp làm chiến tích để trưng bày.

Người truyền đạo trẻ tuổi ẩn núp trong rừng rậm và theo dơi những người bộ lạc đi săn lẻ một ḿnh. Khi thấy hoàn cảnh thuận tiện là anh ḅ ra. Anh bập bẹ và ra dấu làm quen. Nếu thấy người này không có vẻ muốn giết ḿnh th́ anh ḷ ṃ đi theo mặc dầu bị họ xô đuổi đánh đá nặng nề. Anh kiên nhẫn đi theo người này và nói về sự cứu rỗi của Đức Chúa Jêsus cho họ.

Anh giảng mà không cần biết họ có hiểu hay không. Có khi chỉ được 5, 10 phút, có khi được vài giờ. Rồi anh vội vàng làm phép Báp-têm cho người đó, và trốn về nơi ẩn núp, cầu nguyện và chờ đợi cho đến sáng hôm sau.

Anh làm như vậy trong 4 ngày, nhiều khi gặp những tay thợ săn đầu người hung dữ rượt đuổi, anh phải trốn chạy nhưng hầu như mỗi ngày anh đều giảng đạo được cho một người dân trong bộ lạc. Qua đến ngày thứ 5 th́ sự nguy hiểm lên đến cao độ, cả bộ lạc đều biết đến sự có mặt của anh trong rừng rậm và họ t́m cách truy lùng anh để giết cho kỳ được. Trong khi chạy trốn và ẩn núp, người thanh niên can đảm vẫn c̣n giảng đạo được thêm cho người thứ năm, là một trong những người đang rượt bắt anh. Giây phút nguy hiểm sau cùng, anh để lại trong tay người bạn mới quyển sách Giăng mà anh vẫn đem theo trong người. Và sau đó trong sự che chở của Chúa anh trốn về được đến nơi an toàn.

Cuộc đời của người giáo sĩ vẫn tiếp tục tại Trung quốc, và rồi anh trở lại Canada tiếp tục cuộc đời ḿnh tại quê nhà. Bộ lạc săn đầu người, trong kư ức của anh, chỉ là một cuộc phiêu lưu rùng rợn của thời trai trẻ.

Nhưng trong chốn rừng rậm xa xôi kia... Quyển sách Giăng của anh đă được mở ra rất nhiều lần, không phải để đọc mà là để ngắm nghía. Những lời nói lạ lùng về Đức Chúa Jêsus làm người thợ săn đầu người bâng khuâng. Ông không hiểu điều ḿnh đă nghe, nhưng ông biết những điều ấy có liên quan đến quyển sách kỳ lạ mà lần đầu tiên ông mới nh́n thấy. Và cứ mỗi lần ông nhớ đến lời nói của người lạ th́ ông lại lấy quyển sách ra ngắm nghía. Ông và 4 người khác trong bộ lạc hết c̣n hứng thú tham dự vào những cuộc tranh đua săn đầu người nữa; thay vào đó họ chăm chỉ trồng trọt và săn bắn.

Con trai của ông là người ṭ ṃ, anh thường t́m đến những nhóm người sống rải rác đây đó và giao du với những người trong xóm làng ở thung lũng. Anh là người đem những tin tức văn minh lạ lùng về cho dân bộ lạc trong rừng rậm.

Khi đứa con trai đầu ḷng của anh được 10 tuổi, anh muốn nó theo học chữ ở trường làng. Mỗi ngày thằng bé phải chạy như bay, xuyên qua mấy chục miles rừng rậm đầy thú dữ để đến trường học, rồi lại phải cấp tốc chạy như bay về nhà trước khi màn đêm buông xuống. Những lần gặp cọp beo, heo rừng, trăn độc, hoặc lạc lơng trong rừng bam đêm, thằng bé được dạy là phải cầu nguyện sự bảo vệ che chở của Đức Chúa Trời.

Ngày thằng bé biết đọc cũng là ngày mà cha và ông nó được nghe Lời của Chúa trong sách Giăng, biết được điều ǵ th́ họ nói lại với những người chung quanh. Rồi thằng bé tốt nghiệp trường Tiểu học. Nó là đứa trẻ có học thức cao nhất và văn minh nhất trong bộ lạc. Cha nó lại tiếp tục bắt nó học thêm. Và nó lại tiếp tục chạy như bay mỗi ngày, băng qua rừng, băng qua làng, để đến tỉnh theo học Trung học mỗi ngày.

Những năm tháng dài cực khổ kể sao cho hết, khi cha nó là người duy nhất phải t́m thức ăn cho cả nhà, cũng như t́m các sản phẩm để trả những chi phí cho nó được đi học. Rồi nó tốt nghiệp Trung học, trở thành người được tôn trọng và ngưỡng mộ nhất trong tất cả các bộ lạc ở dọc biên giới, các làng mạc xa gần, kể cả các tỉnh nhỏ. Chàng thanh niên có thể t́m được việc làm dể dàng trong các công sở và sống một đời sống thoăi mái trong tỉnh cũng như tại các thành phố, nhưng chàng quyết định tiếp tục việc học. Anh từ bỏ bộ lạc để chính thức gia nhập vào cuộc sống văn minh đô thị, để theo học tại một trường Đại học ở thành phố.

Sau khi tốt nghiệp Đại học, anh được sự mời gọi của rất nhiều tổ chức chính phủ cũng như nhiều công ty tư nhân. Vào khoảng thời gian này, tại các tỉnh thuộc biên giới Hoa Ấn, số người tốt nghiệp Đại học cũng chỉ đếm được trên đầu các ngón tay.

Nhưng người Cơ-Đốc trẻ tuổi có một tiếng gọi thiêng liêng hơn. Sự ngu dốt man rợ của bộ lạc và của đám đông dân chúng nghèo khổ dọc biên giới, lúc nào cũng ghi khắc trong trí nhớ của anh. Sự biến đổi lạ lùng của ông nội, đức tin kỳ diệu của người cha, và sự cố gắng cực kỳ khó khăn của họ để vâng theo sự dạy dỗ của Chúa, lúc nào cũng ám ảnh anh. Anh quyết định bỏ qua tất cả những cám dỗ của cuộc sống văn minh, trở về rừng rậm làm một cuộc thay đổi.

Anh tin tưỡng rằng, nếu Chúa đă ban cho anh sự khôn ngoan và dư dật, chắc chắn Chúa cũng sẽ ban thịnh vượng cho những xă hội biết tin nhận Ngài.

Sau đó, những biến chuyển thời cuộc và nhu cầu sống c̣n, đă khiến cho các bộ lạc dọc biên giới kết hợp lại cùng với các dân du mục Trung-hoa, Ấn-độ để trở thành một cộng đồng riêng biệt có tên là HMAR với dân số ngày nay khoảng 150,000 người.

Dr. Pudantie, người thanh niên ấy, đă ở lại với đồng bào của anh, phục vụ công tác rao giảng Tin lành của Đức Chúa Trời, và phục vụ cộng đồng HMAR trong các lănh vực Phát triển, Cứu trợ và Giáo dục. Cho đến 1996, 86 năm sau ngày Lời của Chúa được giảng ra trong rừng rậm, Dr. Pudantie thành lập được 227 nhà thờ, 65 trường Trung và Tiểu hoc, 1 Đại học, 2 nhà thương. 90% trong số 150,000 người Hmar biết đọc biết viết, và 80% là Cơ-Đốc nhân. Cộng đồng HMAR được kể như là một cộng đồng văn minh và thịnh vượng dọc biên giới Hoa Ấn. Đại học HMAR là một trong những học viện có tầm vóc so với các Viện Đại học chung quanh. Quốc gia Tây Tạng cũng có đặt Ṭa Lănh sự tại đây.

Dr. Pudantie cũng đă t́m đến người giáo sĩ năm xưa tại Canada để giao lại quyển sách Giăng cũ. Những giọt nước mắt đă rơi trên tập Kinh thánh gần hư nát. Người giáo sĩ già dù trong giấc mộng cũng không thể nào ngờ được, những hạt giống Đạo mà ḿnh đă gieo vội vàng trong cuộc phiêu lưu mạo hiểm thời trai trẻ, đă nẩy mầm để trở thành cổ thụ như ngày hôm nay.

(Câu chuyện do chính Dr. Puantie kể lại trong khi đem Ca đoàn thiếu nhi HMAR viếng thăm Orange County, California vào mùa thu 1996)

Trích dẫn trong đặc san Suối Thiêng: Ấn Bản Đức Tin & Việc Làm



GIÀU CÓ



Có người tín đồ nào mà không cảm thấy ngại ngùng khi đọc những lời phán bảo của Đức Chúa Giê-su về số phận của những kẻ giàu có, "Kẻ giàu vào nước Đức Chúa Trời khó biết dường nào ! Lạc đà chui qua lỗ kim c̣n dễ hơn người giàu vào nước Đức Chúa Trời." (Lu-ca 18:24-25)

Đức Chúa Giê Su đang đề cập đến một t́nh trạng tâm lư thông thường của con người. Con người thường có khuynh hướng khi đă nắm được trong tay một số tài sản ở thế gian, khi bắt đầu cảm thấy ḿnh giàu có hơn người chung quanh ḿnh, th́ ra sức bám chặt lấy cái sản nghiệp của ḿnh và không bao giờ muốn xa ĺa nó.

Tất cả tâm hồn, tất cả niềm vui, tất cả cuộc đời họ chỉ quy về một mối, làm sao cho tài sản của họ mỗi ngày một lớn, "V́ chưng của cải người ở đâu, th́ ḷng người cũng ở đó." (Ma-thi-ơ 6:21). Họ không chấp nhận bất cứ điều ǵ có thể làm cho tài sản họ bị hao ṃn, mất mát. Đầu óc họ lúc nào cũng nghĩ đến tiền. Làm sao cho mỗi ngày một nhiều tiền hơn? Họ hy sinh sức khỏe, hạnh phúc của bản thân và của những người chung quanh cho công việc, và rồi ra sức tằn tiện, chắt bóp, dành dụm để làm cho tài sản ngày một lớn.

Chính Đức Chúa Giê-su trong nhiều lần dạy dỗ cũng đă thốt lên câu thương hại, "Hỡi kẻ dại! Chính đêm nay linh hồn người sẽ bị đ̣i lại. Vậy những của cải người đă sắm sẵn sẽ thuộc về ai?" (Lu-ca 12:20).

Và vua Salomon trong khi viết lại những sự khôn ngoan của ḿnh cho người đời sau, đă không ngừng than văn, "Nầy một người cô độc, chẳng có ai hoặc là con trai hay anh em; dẩu vậy, lao khổ nó không thôi, máêt nó không hề chán của cải. Nó không hể nghĩ rằng: vậy ta lao khổ, ta bắt linh hồn nhịn các phước là v́ ai? ... (Truyền-đạo 4:8), "Có một tai nạn dữ mà ta đă thấy dưới mặt trời: ấy là của cải mà người chủ dành chứa lại, trở làm hại cho ḿnh, hoặc v́ cớ tai họa ǵ, cả của cải nầy phải mất hết; ... (5:13)", "V́ có người làm công việc ḿnh cách khôn ngoan, thông sáng, và tài giỏi, rồi phải để lại làm cơ nghiệp cho kẻ chẳng hề lao khổ làm đến. Đều đó cũng là một sự hư không và một sự tai nạn lớn. (2:21)".

Nhưng nói như vậy không có nghĩa rằng, đi theo Chúa là không được phép giàu có, là phải nghèo khổ cơ hàn. Kinh thánh có nói rằng, "Nhưng trước hết, hăy t́m kiếm nước của Đức Chúa Trời và sự công b́nh của Ngài, th́ Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa. (Ma-thi-ơ 6:33)". Sau đây là câu chuyện của một gia đ́nh Cơ-Đốc được Chúa ban cho sự giàu sang.

Sau khi Trung-Hoa lục địa hoàn toàn bị đặït dưới chế độ Cộng sản, th́ một số người Hoa kiều chạy nạn sang Việt-Nam. Gia đ́nh họ Trần cũng v́ loạn ly mà sang định cư ở Chợ-Lớn, họ sinh sống bằng nghề may áo quần. Thuở ấy, Hội Thánh CDPL c̣n sơ khai, chưa thể bắt liên lạc với tất cả các tín đồ, nên gia đ́nh họ Trần âm thầm sống trong Chợ- Lớn, tưởng rằng ḿnh không bao giờ c̣n có thể được đi nhóm lại trong nhà CDPL nữa. Năm tháng cứ trôi qua, và tấm bảng hiệu với hàng chữ ghi "Chúng tôi nghỉ ngày Thứ Bảy" là niềm an ủi độc nhất của một gia đ́nh hết ḷng trung tín với Chúa.

Cho đến một hôm Ông Hội Trưởng CDPL và Mục Sư Phạm Thiện có việc phải đi vào Chợ-Lớn. Đang đi trên đường chợt thấy bảng hiệu nghỉ ngày thứ bảy, họ ṭ ṃ bước vào hỏi thăm xem người chủ tiệm may áo quần có phải là tín đồ CDPL hay không?

Người Trung-Hoa già sau khi nói chuyện với quư vị mục sư th́ xúc động tạ ơn Chúa và kéo họ ra sau, đưa cho họ một cái bao bố, nói "Đây là tiền phần mười của tôi góp cho Chúa qua bao nhiêu năm. Tôi chưa từng một lần dám xao lăng. Hôm nay, xin cho tôi gởi về Hội Thánh."

Rồi chiến cuộc 75, một lần nữa gia đ́nh họ Trần lại di dân sang Mỹ, lần nầy th́ người Cơ Đốc già đă mất, nhưng c̣n 5 người con của ông th́ vẫn tiếp tục thờ Chúa và đi theo con đường ông cha ḿnh đă đi. Một trong những người con là Trần Phong, nhà Mạnh Thường Quân quen thuộc của cộng đồng Trung Hoa ở miền Đông Nam California, mà hầu như toàn thể gia sản của ông đều được dùng để giúp vào sự phát triển các cơ sở của Hội Thánh CDPL người Hoa và người thiểu số.

Người anh của ông cũng vậy, đă đóng góp hầu như vô hạn cho Giáo Hội CDPL. Gần đây nhất, người này đă để ra hơn 100 triệu Dollar dành vào việc chuẩn bị truyền đạo CDPL ở Trung Hoa lục địa. Người em của ông th́ là chủ nhân một nhà Phát hành lớn, chỉ buôn bán và phát hành tất cả những sách vở, vật liệu ǵ có liên quan đến Chúa Giê Su và truyền đạo.

Tiền bạc của những vị này thật là không thể đếm được. Nhiều gấp trăm ngàn lần cái sản nghiệp nhỏ bé của chúng ta. Cái sản nghiệp mà chúng ta đang cố gắng bằng mọi cách để giữ chặt lấy. Kể cả việc bỏ Chúa và không bước trong đường lối của Ngài.

Gia đ́nh họ Trần dâng hiến của cải để phục vụ cho Chúa. Và họ có bị mất mát, thua lỗ không? Không !!! Họ được Chúa ban phước lại cho họ. Họ càng hiến tài sản đi, Chúa càng cho họ nhiều thêm nữa. Và Ngài vẫn tiếp tục đổ phước từ trên Trời xuống cho họ không chỗ chứa, v́ Chúa biết họ là những người quản gia trung tín của Ngài. Những người quản gia siêng năng và khôn ngoan. Ma-la-chi 2:9-10 "Các người hăy đem hết thảy phần mười vào kho, hầu cho có lương thực ở trong nhà ta; và từ nay các người khá lấy điều này mà thử ta, Đức Giê-Hô-Va vạn quân phán, xem ta có mở các cửa sổ trên trời cho các người, đổ phước xuống cho các người đến nỗi không chỗ chứa chăng?"

Một trong những điều đại kỵ của Cơ Đốc nhân là thách đố Đức Chúa Trời. Cả quyển Kinh thánh và ngay cả Đức Chúa Giê-su cũng nhắc nhở chúng ta không nên thách thức Đức Chúa Trời. Nhưng có một điểu duy nhất mà Chúa cho phép chúng ta thử thách Ngài, đó là đem số tiền bạc ít ỏi của chúng ta ra cho Chúa mượn, trung thành đóng góp của cải vào trong hội thánh của Ngài, giúp đở con cái khác của Chúa trong khi hoạn nạn, và đợi xem sự hoàn trả lại của Chúa cho chúng ta và những người chúng ta thương yêu.

Có ai v́ đóng góp vào nhà Chúa mà trở nên nghèo túng chăng? Sự túng thiếu nằm trong tâm linh của chúng ta. Con người có bao nhiêu của cải cũng không cho là đủ, suốt đời vẫn cảm thấy cần phải có nhiều hơn nữa. Chúng ta tưởng rằng càng tích trữ của cải trong tay th́ sẽ bảo đảm được đời sống của chúng ta hơn, mà chúng ta quên rằng không có tiền bạc nào có thể bảo đảm được sự no đủ, sự b́nh an của chúng ta. Chỉ có phước của Đức Chúa Trời mới có thể làm thỏa măn điều mà tâm hồn chúng ta khao khát. Chỉ có Chúa là đấng kiên nhẫn và nhân từ mới có thể đáp ứng được những nhu cầu của cuộc sống chúng ta. Tiền bạc là vật có ngày hôm nay mất ngày mai, không thể hoàn thành được chức vụ này.

Đức Chúa Giê-su cũng đă nhắc nhở con cái Ngài, "Hăy sắm cho ḿnh túi không hư, và của báu không hề hao kém ở trên trời, là nơi kẻ trộm không đến gần, sâu mọt không làm hư nát." (Lu-ca 12:33)

Ngày hôm nay chúng ta bỏ biết bao nhiêu tiền hàng năm để mua Insurance cho sức khỏe, xe cộ, nhà cửa ... nhưng có mấy ai nghĩ đến phải mua Insurance cho linh hồn của ḿnh, hạnh phúc của ḿnh? Làm sao để bảo đảm cho gia đ́nh chúng ta được b́nh yên, hạnh phúc? Làm sao để bảo đảm cho cuộc đời, linh hồn của vợ chồng, con cái chúng ta không bị sa đọa?

Chúa dạy chúng ta phải biết yêu thương đồng loại. Chúng ta yêu thương đồng loại chúng ta như thế nào, th́ Ngài cũng yêu thương chúng ta thể ấy. Cái giá để mua Insurance cho linh hồn và hạnh phúc của chúng ta đó là sự vâng lời Chúa, lo lắng cho linh hồn và hạnh phúc của kẻ khác.

Kẻ góp công, người góp của, Hội thánh bằng vào sự đóng góp của chúng ta mới có đủ nguyên liệu và nhân lực để phát hành sách vở, báo chí, tổ chức các chương tŕnh cứu trợ những người bị hoạn nạn, đói kém, tổ chức các chương tŕnh giảng đạo truyền thanh, truyền h́nh, hay gởi các giáo sĩ tới tận những vùng rừng núi, làng mạc xa xôi, để truyền giảng về sự cứu rỗi của Chúa Giê Su, để cứu vớt những linh hồn có tội, để nhóm lại những kẻ tản lạc.

Có sự đóng góp nào trên thế gian có thể mua được nhiều thứ, làm được nhiều việc như sự đóng góp v́ lo lắng cho linh hồn và hạnh phúc của kẻ đồng loại?

Danh lợi: sự giàu có, tiền bạc, uy quyền, chức tước, là giấc mơ của hầu hết mọi người. Nhưng đi kèm với những giấc mộng hào nhoáng đẹp đẽ ấy cũng là nhửng cơn ác mộng: lo âu, thần kinh căng thẳng, buồn phiền, ganh ghét, nhục nhă, hèn hạ, đau đớn. Đằng sau những giây phút vui thú ngắn ngủi, những giây phút hạnh phúc ngắn ngủi luôn luôn là những ngày tháng dài lê thê, chán nản, trống trải và cô độc.

Quư vị có bao giờ đối diện với một Cơ-Đốc nhân chân chính? Nụ cười luôn luôn nở trên môi anh, mỗi ngày trôi qua là một cơ hội cho anh được làm những điều Chúa dạy, anh thấy b́nh yên, anh có cảm giác vui mừng ở trong ḷng. Anh hăng hái, năng động trong tất cả mọi công việc. Ôi, cuộc đời anh đang sống thật có nhiều ư nghĩa và thật đầy đủ trong sự bảo vệ của Đức Chúa Trời.

Trích dẫn trong đặc san Suối Thiêng: Ấn Bản Chúa Yêu Thương

Copyright  © by Peace & Happiness Ministry, All rights reserved.
ABHP giu ban quyen tat ca moi tai lieu trong mang nay.